Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

Dựa theo luật đầu tư năm 2005, Giấy chứng nhận đầu tư thời điểm đó được xem là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, điều này vô tình dẫn đến sự chồng chéo trong công tác quản lý giữa Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp. Vì thế, doanh nghiệp rơi vào trạng thái một cổ hai tròng, cùng lúc phải tuân thủ cả hai luật.

Nhận thấy sự bất cập này, Luật đầu tư mới năm 2014 đã tháo gỡ các vướng mắc này bằng cách quy định Luật đầu tư chỉ quản lý dự án đầu tư. Cũng theo đó, luật đầu tư năm 2014 quy định việc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (trước đây là Giấy chứng nhận đầu tư), còn vấn đề thành lập doanh nghiệp sẽ do Luật doanh nghiệp điều chỉnh.

Thời gian cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư sẽ được rút ngắn.

Tại điều 37 Luật đầu tư năm 2014, thời hạn xin cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là 15 ngày kể từ ngày cơ quan đăng ký đầu tư nhận đầy đủ hồ sơ.

  • Đối với các dự án đầu tư thuộc diện phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư thì thời gian cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu là 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản quyết định chủ trương đầu tư.
  • Đối với vấn đề điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, trong trường hợp từ chối thì phải thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư và nêu rõ lý do từ chối.
giay-chung-nhan-dang-ky-dau-tu
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư – giấy khai sinh cho dự án đầu tư của doanh nghiệp

Chúng ta đều nghĩ rằng việc rút ngắn thời gian xin cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư sẽ là một bước đệm thuận lợi cho nhà đầu tư khi đầu tư vào Việt Nam. Thế nhưng, từ quy định của pháp luật nhà nước đến thực tiễn vẫn còn quá nhiều bất cập cần phải suy ngẫm. Thậm chí trong khi Luật đầu tư năm 2014 có hiệu lực gần 1 tháng nhưng việc vận dụng và áp dụng các quy định của pháp luật vẫn còn gặp những vướng mắc vì chưa có bất cứ văn bản luật nào hướng dẫn cụ thể và chi tiết những quy định mang tính định hương, chung chung của luật. Điều này gây khó khăn, lùng tùng cho việc đưa luật đi sâu và sát vào thực thế đời sống.

Những vấn đề bất cập, bất hợp lý của luật đầu tư mới năm 2014.

Đối với các nhà đầu tư nước ngoài theo quy định tại Luật đầu tư năm 2014 được xác định theo tiêu chí quốc tịch: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”(Khoản 14 Điều 3 Luật đầu tư 2014). Tuy nhiên một số quy định tại Luật đầu tư năm 2014 thì việc xác định tư cách của nhà đầu tư nước ngoài lại dựa theo số vốn, tức là, chỉ cần doanh nghiệp tại Việt Nam có vốn đầu tư từ nước ngoài thì doanh nghiệp đó cũng bị xem là nhà đầu tư nước ngoài.

Kết luận: Theo Lighthouse LAW tổng hợp thì luật đầu tư mới năm 2014 của Luật đầu tư thì vẫn còn khá nhiều bất cập và bất hợp lý. 

Hãy liên hệ với Lighthouse LAW chúng tôi để được tư vấn xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tư vấn điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư một cách nhanh chóng và chính xác nhất.

TƯ VẤN LUẬT Lighthouse LAW – Điểm tựa pháp lý

Hotline: 0962.899.659           

Tel: 0462.966.777

Email: contact@lighthouselaw.vn

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *